Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013

Bài thuốc hay hay trị viêm cầu thận mạn.

Bài 3:   phụ tử chế 8g, can khương 4g, bạch truật 12g, cam thảo 4g, hậu phác 8g, mộc hương 8g, thảo quả 8g, đại phúc bì 8g, mộc qua 8g, phục linh 16g

Bài thuốc trị viêm cầu thận mạn

Bài 2:   bạch truật 12g, bạch thược 12g, bạch linh 12g, phụ tử (chế) 8g, sinh khương 6g, trạch tả 12g, sa tiền 12g, trư linh 8g, nhục quế 4g. Sắc uống ngày 1 thang. Dùng bài: phụ tử chế 12 - 16g, đại hoàng 12 - 16g, trần bì 8g, phục linh 12g, bạch truật 12g, hậu phác 6g, bán hạ chế 12g, sinh khương 8g, đẳng sâm 20g.

Thể thận tỳ dương hư   Người bệnh phù không rõ ràng, phù ít, kéo dài (nhất là ở hai mắt cá chân), bụng trướng, nước giải ít, sắc mặt trắng xanh, lưỡi bệu, mỏi mệt, sợ lạnh, lưng mỏi lạnh, tay chân lạnh, mạch trầm tế.

Nếu có hiện tượng trụy mạch, dùng Độc sâm thang hoặc bài Sinh mạch tán gồm (nhân sâm 8g, ngũ vị tử 8g, mạch môn 8g) phối hợp các vị thuốc hồi dương như phụ tử (chế) 12g, nhục quế 6g, can khương 6g. Kế hợp châm cứu các huyệt tỳ du, túc tam lý, tam tiêu du. Bài 2:   quế chi 6g, thương truật 12g, hậu phác 6g, xuyên tiêu 4g, phục linh bì 12g, trạch tả 12g, ý dĩ 16g, sa tiền 20g.

Phép chữa là ôn bổ tỳ dương, lợi niệu. Sắc uống ngày 1 thang. Sắc uống ngày 1 thang. Thể âm hư dương xung   Hay gặp ở viêm cầu thận mạn có tăng huyết áp.

Đậu đỏ là vị thuốc trị viêm cầu thận mạn thể tỳ dương hư. Thể viêm cầu thận mạn có tăng urê máu   Do công năng của tỳ dương và thận dương sút giảm quá nhiều nên trọc âm nghịch lên, gây chứng urê huyết cao gọi là dương hư âm nghịch. Người bệnh biểu đạt lợm giọng, buồn nôn, sắc mặt đen, đau tức ngực, bụng trướng, đi ngoài lỏng, tiểu tiện ngắn, ít, chất lưỡi bệu, rêu trắng dày, mạch huyền tế, nhu tế.

Phép chữa là ôn thận tỳ dương. Sắc uống ngày 1 thang. Nếu nước đái ít, đi ngoài táo, miệng hôi lở loét (trọc khí hóa nhiệt) thêm hoàng liên 12g, trúc nhự 12g, chỉ thực 12g, can khương 4g, đẳng sâm 16g, cam thảo 4g, đại táo 12g

Bài thuốc trị viêm cầu thận mạn

Dùng một trong các bài:  Bài 1:  thổ phục linh 16g, củ mài 16g, tỳ giải 16g, buổi 10g, nhục quế 8g, tiểu hồi 12g, mã đề 12g, đậu đỏ 20g, cỏ xước 20g, đậu đen 20g, gừng khô 6g.

Phép chữa là ôn dương giáng nghịch. Phối hợp châm cứu các huyệt tam âm giao, thái xung, can du, nội quan, thần môn và các huyệt tại chỗ theo chứng.

Sắc uống. Thể tỳ dương hư   Người bệnh phù ít, không rõ ràng, phù ở mi mắt, sắc mặt trắng xanh, chân tay mệt mỏi, ăn kém, hay đầy bụng, phân nát, tiểu tiện ít, chất lưỡi bệu, có vết răng, tay chân lạnh, mạch hoãn.

Danh y Thái Hòe. Dùng một trong các bài thuốc sau:  Bài 1:  ý dĩ 30g, củ mài 20g, biển đậu 20g, mã đề 20g, nhục quế 4g, gừng khô 8g, chập 8g, đăng tâm 4g, đậu đỏ 20g. Người bệnh biểu hiện phù không nhiều hoặc đã hết phù, nhức đầu chóng mặt, hồi hộp đánh trống ngực, miệng khát, môi đỏ, họng khô, chất lưỡi đỏ, mạch huyền sác.

Nếu ỉa phân nát, nước đái trong, đau bụng, rêu lưỡi trắng trơn (trọc khí hóa hàn) thêm can khương 8g, ngô thù 8g. Sắc uống ngày 1 thang. Hồi hương. Sắc uống ngày 1 thang. Dùng bài: câu đằng 16g, tang ký sinh 16g, cúc hoa 12g, sa sâm 12g, ngưu tất 12g, đan sâm 12g, quy bản 12g, trạch tả 12g, sa tiền tử 16g.

Sắc uống ngày 1 thang. Phép chữa là bình can tư âm lợi thủy. Phối hợp châm cứu các huyệt quan nguyên, khí hải, tỳ du, túc tam lý, tam âm giao.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét