Tức là Vũ Ngọc Tiến đã tạo được cho nhân vật của mình những tiếng nói riêng, nhân vật được nói bằng ngôn ngữ hạp với vị trí, chức năng của họ… Mai Vũ
Ngoài lời vào sách, ghi chú, "Sóng hận sông Lô”, gồm 12 chương. Ở đây, chỉ có những nhân vật có quyền lực, có tham vọng quyền lực mới tạo ra các mật ngôn, giấu chúng.
Đối lập giữa hiện tại (hiện hữu) - dĩ vãng (vắng mặt), cái chết - sự sống, bình hòa ổn định - tranh đoạt bất ổn, mất - còn, ra đi - trở về, dùng - bỏ, khuyết vắng - thay thế, mong muốn - cấm đoán, liên tài - đố kị, tin cẩn - tị hiềm, phá hủy - kiến tạo…. Đó là dấu ấn và quyền năng mềm của người kể lại lịch sử. Những điểm mù của lịch sử, những chỗ chính sử biên chép mờ, hoặc có nhiều thông tin mâu thuẫn nhau, Vũ Ngọc Tiến lấp đầy lịch sử bằng các chọn lựa, các mường tưởng, suy luận logic, cốt làm sao cho lịch sử trở nên sống động, "chân thực nhất”.
Cái bất biến (cấu trúc) của hệ thống nghệ thuật "Sóng hận sông Lô” là sự Đối lập. Ông thay đổi thời gian sự kiện để kiến thức lịch sử trong "Sóng hận sông Lô” trở nên tri thức đơn nhất, để câu chuyện lịch sử ở đây có một logic mới mẻ, có những ý nghĩa mới theo văn cảnh cụ thể.
Bên cạnh tri thức lịch sử chiến tranh, lịch sử chính trị, Vũ Ngọc Tiến còn cho độc giả thấy những hiểu biết sâu sắc của ông về địa lý, tín ngưỡng, tôn giáo, tư tưởng, văn hóa, tâm lý của con người thời Lê sơ. Một trong những thành công của Vũ Ngọc Tiến chính là đã sáng tạo ra thể tâm lý của từng nhân vật, ông đã sử dụng rất thiên nhiên dòng ký ức, dòng hoài niệm, cảm giác, ảo giác, ý chí để giải nghĩa duyên do dẫn đến hành động và kết cuộc của mỗi nhân vật, để cho các nhân vật diễn tả khách quan những cảm giác, suy tư về nhau.
Trong chính sử ghi Thánh Tông tẩy oan cho họ vào năm 1465”. "Sóng hận sông Lô” muốn đọc trong các văn bản kí vãng "sự thực lịch sử thời Lê sơ quanh số và cái chết oan, tức tưởi của Trần Nguyên Hãn”, tức thị ở đây lịch sử của thời đại, của một triều đại được nhìn qua mạng cá nhân: lịch sử chiến tranh, lịch sử chính trị - trước nhất là lịch sử của tinh thần và mệnh con người cụ thể.
Ông cấp cho nhân vật tên tuổi, lai lịch để nó có "cơ sở” nhập vào hệ thống lịch sử và nhờ đó có số phận riêng. Đối nghịch vận hành như một quy luật nội tại, một nguyên tắc tổ chức thế giới nghệ thuật "Sóng hận sông Lô”. Lịch sử được diễn giải trong "Sóng hận sông Lô” không chỉ là lịch sử Đại Việt mà cả lịch sử nhà Minh, lịch sử của chúng ta và lịch sử của chúng nó.
Biểu hiện, giải thích lịch sử đan xen trong các hồi ức, kí ức, người viết tự do dò la tâm thức, lịch sử ý thức của nhân vật, linh hoạt chuyển mạch tự sự, có thể tô đậm nhân vật, sự kiện này theo chủ tâm nghệ thuật riêng, hoặc làm mờ chi tiết, sự kiện, nhân vật khác theo các vai trò, chức năng của chúng.
Tiểu thuyết của Vũ Ngọc Tiến vừa giải mã lịch sử, giải thích các sự kiện, hành động, biến cố lịch sử qua các dòng tinh thần, các hồi ức của nhân vật. Trong lời vào sách và ghi chú cho cuốn sách, nhà văn Vũ Ngọc Tiến không úp mở về cách cấu trúc lịch sử của mình. Ở đây người viết vừa dịch lịch sử từ ngôn ngữ tâm linh vừa đọc lịch sử từ những cứ liệu lịch sử nguyên gốc Hán Nôm của các sử gia triều Lê và triều Nguyễn, các văn bia cổ, ngọc phả tại các đền miếu, các sách hoặc bài viết của các nhà nghiên cứu lịch sử hiện đại”; vừa mường tượng, suy đoán, vừa biên chép, phân tích, điều chỉnh lại chính sử từ nhận thức, quan niệm của cá nhân chủ nghĩa: "Chiến dịch Tây Bắc dẹp loạn Đèo Cát Tư Hãn do Lê Tư Tề và Lê Sát chỉ huy, biên chép vào năm 1430, nhưng tác giả đẩy lên sớm 1 năm (mùa xuân 1429) để trùng hợp lúc đó Trần Nguyên Hãn còn sống, kèm, dạy dỗ Tư Tề - con cả của Lê Lợi về văn hóa và kiến thức binh pháp.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét