Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

Giáo sư, nhạc sĩ Trần Văn Khê: Suốt đời là "tài tử".

Trong căn phòng tiếp khách rộng thênh thang, những chiếc đàn kìm (đàn nguyệt), đàn cò (đàn nhị), đàn bầu, đàn gáo (hồ cầm) đã được treo nghiêm ngắn lên tường bởi chủ nhân của chúng nhiều năm nay đã chẳng thể so dây, bấm phím được nữa

Giáo sư, nhạc sĩ Trần Văn Khê: Suốt đời là

Mơ ước đó của ông chỉ thực sự trở thành hiện thực vào năm 1995 khi Trường Đại học Hùng Vương (Tp HCM) quy định thêm một loại chứng chỉ cho ngành chỉ dẫn viên du lịch có can dự tới âm nhạc dân tộc. Sự xuất hiện của cây đàn ghi ta phím lõm, cải biên từ cây đàn ghi ta phương Tây đã làm phong phú thêm cho dàn nhạc.

Cuộc gặp gỡ của tôi với giáo sư hôm đó rốt cuộc cũng phải tạm đứt quãng vì một đoàn khách nước ngoài muốn tới nghe ông nói chuyện đôi điều về văn hóa Việt Nam. Năm 29 tuổi, sau khi bán cây đàn piano được một ít tiền, ông mua vé tàu qua Pháp tìm cơ hội học tập và làm việc.

Ông lo ngại điều đó sẽ làm biến chất âm sắc cựu truyền. Ông bèn viết thêm mấy câu :   Nhưng ta phải cố vui, vui để cho tiếng cười át lên cả tiếng khóc Đời sẽ được xinh tươi. Giản dị thôi, chỉ cần lấy cuốn tự vị ra, học thêm dăm, sáu từ mới, thế là đã biết hơn ngày bữa qua một chút rồi. Đã có lúc cô nghĩ, sẽ phải bỏ học dở chừng vì không muốn phải học môn này. Mãi sau này, bị nhiễm lao nặng, phải nằm viện suốt hơn 3 năm, ông mới nghĩ ngợi về sự gắn bó với lĩnh vực nghệ thuật dân tộc mà ông được nuôi dưỡng từ thơ bé, để rồi quyết định chọn đó làm hướng đi, sự nghiệp của đời mình.

Ngày nối ngày vẫn là những công việc, những dự án nghiên cứu và quảng bá âm nhạc, những cuộc chuyện trò, tiếp xúc với học sinh, bạn bè và khách khứa trong, ngoài nước.

Đó là năm 1952. Ảnh: Phương Nam Film. Người vợ của ông luôn mong muốn có một người chồng mẫu mực theo quan niệm truyền thống nên đã không chấp nhận việc ông luôn muốn vươn ra bên ngoài, tự nguyện gắn mình với sứ mạng quảng bá âm nhạc dân tộc ra thế giới.

Cách thức đào tạo bây giờ đốn là theo lối sư phạm, tức là truyền dạy kỹ thuật, áp dụng các mô hình lý thuyết phương Tây vào giảng dạy.

Cảm nhận từ trong máu, ông phát hiện ra: người xưa "chơi đờn ca a ma tơ" chứ không ai nói "hát đờn ca tài tử" hay "biểu diễn đờn ca tài tử". Tại đây, ông làm đủ thứ nghề: dịch văn bản luật, lồng tiếng cho phim, đóng phim, đàn hát tại các nhà hàng để kiếm sống.

Họ sôi nổi quần tụ quanh giáo sư, chú tâm nghe ông nói như nuốt từng lời, từng chữ. Khi nạn đói xảy ra trên cả nước, sốt ruột trước tình trạng người chết đói nhan nhản, nên mặc dù lúc đó đang là sinh viên năm thứ 3, ông vẫn quyết định bỏ học trở về miền Nam, thành lập gánh hát rong kiếm tiền mua thức ăn phát cho người nghèo.

Những ngày nằm viện, đã có lúc ông vô vọng khi ngày nọ tháng kia phải giam mình giữa bốn bức tường trắng.

Nhưng chưa bao giờ ông chịu rời xa âm nhạc dân tộc. Mỗi sáng, người trí thức ấy vẫn dậy từ năm rưỡi sáng với nhịp điệu sinh hoạt và làm việc gần như chơi thay đổi. Cô cảm nhận được vẻ đẹp nhẵn, sâu lắng của các nhạc điệu âm nhạc truyền thống. Gần 10 năm trở lại đây, Giáo sư - nhạc sĩ Trần Văn Khê đã trở về ở hẳn Việt Nam mà không quay lại Pháp. Hằng ngày, ông lão tóc bạc trắng bị đau khớp phải ngồi trên xe lăn, giữa một gian phòng rộng chỉ có sách và các nhạc cụ vẫn thả hồn theo tiếng nhạc dìu dặt, luyến láy và ắp đầy tâm trạng.

Chính cái sự "chơi" đó đã khiến họ thoải mái tung tẩy ngón đàn, tự do biến báo, thách thức các nhịp, phách bổng trầm để người đàn cũng cùng phải nhọc công ứng biến.

Sang tuổi 94, sức khỏe của ông đã sút giảm đáng kể, phải ngồi xe lăn, thính lực cũng kém.

Ngắm cảnh hoa nở, hoa tàn, lá rụng, từ xuân sang hè, hè sang thu bên ngoài cửa sổ phòng bệnh, không biết bao giờ được ra viện, ông đâm chán nản, mất ý thức, gần như vô vọng.

Ông viết:   Chim không hót, hoa không cười, người không hy vọng Bốn tường vôi trắng xóa một màu trăng   Nhưng rồi ông thấy, nếu mình cứ buồn như vậy thì bệnh tình cũng không khỏi mà cuộc thế càng thêm khuất tất. Càng học nhiều, càng nghiên cứu sâu, ông càng thấy buồn vì cái "tinh nghịch trong ngón đàn", cái phóng túng và ngẫu hứng của lối đàn, ca của đờn ca tài tử xưa giờ đã hoàn toàn biến mất.

Giáo sư, nhạc sĩ Trần Văn Khê và nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng - một trong những học trò của ông trong cảnh phim "Trần Văn Khê - người truyền lửa". Ông vốn sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống đờn ca a ma tơ, từ nhỏ đã quen những hoạt động đờn ca tài tử rất sinh động trong không gian diễn xướng nguyên sơ của nó ở vùng sông nước Nam Bộ.

Bệnh khớp đã làm đôi tay không còn tuân theo ý muốn của ông. Tuổi tác khiến Giáo sư Trần Văn Khê đã không còn cầm được đàn để tự mình thả hồn trong những làn điệu đờn ca tài tử.

Thật ngạc nhiên, sau những buổi nghe Giáo sư Trần Văn Khê giảng trên lớp, cô đã cảm thấy ái tình âm nhạc dân tộc như đang chảy trong huyết mạch. Và ông tự giao cho mình cái sứ mệnh phải làm sống lại nó. Giáo sư Trần Văn Khê vẫn nhớ như in bức thư của một sinh viên Trường Đại học Hùng Vương gửi ông sau khi dự lớp học âm nhạc dân tộc do ông giảng dạy. Với Giáo sư Trần Văn Khê, những bức thư như thế chính là phần thưởng lớn nhất mà ông nhận được sau hàng loạt cống hiến hết mình cho sự nghiệp nghiên cứu, truyền bá âm nhạc dân tộc.

Với Giáo sư Trần Văn Khê, ông luôn luôn vui với những gì mình đã có, và không bao giờ buồn vì những gì chưa có hay không bao giờ có.

Kỹ thuật chỉ khiến người ca thán phục chứ chẳng thể làm người ta xúc động như nghệ thuật. Cô hứa sau này, khi có con, cô sẽ ru con bằng những bài dân ca truyền thống, sẽ là người dạy cho con mình tình yêu với những thanh âm, những lời hát mộc mạc, thấm đẫm ân nghĩa.

Ở đó ông vẫn có đủ mọi thứ, chỉ không có sự tự do giản dị của một người khỏe mạnh. Đó là nỗi niềm đích thực khổ đau với ông. Trên bàn làm việc của mình, ông thường để câu châm ngôn: "Cố làm sao để bữa nay hơn ngày bữa qua và mai sau sẽ hơn ngày hôm nay". Với ông, lý trí luôn ở bên để kiểm soát tình cảm của mình. Và tôi cảm nhận được niềm vui ngân nga trong ánh mắt của một con người suốt một đời si mê vì nghệ thuật….

Trần Văn Khê vốn là sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội những năm 40 của thế kỷ trước. Có gì đó thật tê tái, cô đơn. Lừng danh trên đất Pháp nhưng Giáo sư Trần Văn Khê luôn day dứt và cháy bỏng ước mơ một ngày nào đó được trở về Việt Nam, dạy cho các em sinh viên người Việt, dạy bằng tiếng Việt về âm nhạc dân tộc truyền thống của người Việt. Ông mài miệt làm việc, mài miệt kiếm sống chỉ với một ý nghĩ, làm sao có đủ tiền để được yên tâm học tập, nghiên cứu âm nhạc và thực hành sứ mệnh truyền bá âm nhạc dân tộc ra khắp thế giới.

Bao lăm ước mong và nhịp đều lặng lẽ trôi đi. Trong thư, nữ sinh viên đó viết rằng, bao lâu nay, với cách giảng dạy và phổ quát âm nhạc dân tộc trên các phương tiện truyền thông, trong lòng bạn không có chút tình cảm nào với các nhạc cụ cũng như những khúc thức của âm nhạc dân tộc. Cuộc chia tay của hai người cũng chỉ vì những khác biệt quá sâu sắc trong quan điểm sống.

Ngoài kia Sài Gòn đang vào mùa mưa, tiếng mưa ồ ạt, xối xả.

Cách này chỉ cốt làm sao cho người học phản ứng sao cho nhanh, cho tinh mà không phát huy được tính nghệ thuật vốn dĩ được thẩm thấu, sàng lọc và phát huy từ trong trái tim người dạy, người học. Hơn 30 năm làm giảng viên dạy nhạc ở Đại học Sorbone của Pháp, cộng cả thời kì tính từ lúc mới sang, ông đã định cư tại giang sơn của tháp Eiffel hơn nửa thế kỷ, đã sang không ít thăng trầm vất vả.

Ông không chỉ dạy tri thức âm nhạc mà còn dạy lẽ sống, dạy cho các em hiểu thấu cái đạo làm người. Nó có vai trò giữ nhịp song loan và là nhạc khí chủ đạo dẫn dắt các nhạc khí khác và cả lời ca của người a ma tơ.

Khi ấy, Giáo sư Trần Văn Khê 31 tuổi. Rất đông đảo các sinh viên hồi đó từng được nghe Giáo sư Trần Văn Khê giảng bài đã bị chinh phục hoàn toàn.

Trần Văn Khê cũng cảnh báo về việc người ta đang lạm dụng cây đàn này, nhất là khi có lúc, có người còn lấy cây đàn ghi ta phím lõm làm nhạc khí chủ đạo dẫn dắt dàn nhạc đờn ca tài tử.

Nhưng những gian lao đã không làm mòn đi ái tình với âm nhạc dân tộc của người thanh niên Việt Nam trên đất Pháp.

Từ những ngày đó, tình cảm gia đình giữa Giáo sư Trần Văn Khê và bà xã đã có những trục trặc và rạn vỡ. Giáo sư Trần Văn Khê khẳng định, đàn kìm (đàn nguyệt, có 2 dây) là cây đàn quan trọng bậc nhất.

Uyên thâm trong nghề "chơi", Giáo sư Trần Văn Khê cho rằng cách dạy bảo, truyền thụ đờn ca a ma tơ giờ đã méo mó và không có hiệu quả, quá thiên về kỹ thuật mà càng ngày càng xa khái niệm nghệ thuật.

Cũng như ông rất thích uống rượu, nhưng không bao giờ để mình say.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét